Tiếp nối thành công của những năm trước, Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2011 ra đời trong bối cảnh nền kinh tế thế giới chứa đựng nhiều diễn biến phức tạp, đi liền với những bất ổn kinh tế vĩ mô trong nước. Với tựa đề “Nền kinh tế trước ngã ba đường”, Báo cáo năm 2011 đề cập đến một loạt vấn đề trọng yếu mà nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt khi bước vào một thập niên mới.
Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2011 bao gồm 9 chương và 2 phụ lục:
Chương 1 “Kinh tế thế giới năm 2010: Phục hồi nhưng chưa bền vững” tóm lược những biến động kinh tế trên toàn cầu trong năm 2010, cung cấp cho độc giả một cái nhìn tổng thể về kinh tế thế giới với những sự kiện lớn như khủng hoảng nợ ở Châu Âu, vấn đề chiến tranh tiền tệ, đi liền với một hệ thống các số liệu thống kê và nhận định cơ bản về khuynh hướng của nền kinh tế thế giới.
Tiếp theo phần tổng quan về kinh tế thế giới, Chương 2 của Báo cáo với chủ đề “Kinh tế Việt Nam năm 2010” cung cấp một cái nhìn và đánh giá toàn cảnh về kinh tế Việt Nam trong năm qua, các khuynh hướng chính trên các khía cạnh lớn như kinh tế vĩ mô, cấu trúc kinh tế, ngân sách chính phủ, cán cân thanh toán, và các chính sách kinh tế vĩ mô v.v…
|
Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam là sản phẩm chính trong chương trình nghiên cứu chiến lược của Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN về “Lý thuyết và chính sách kinh tế vĩ mô trong điều kiện hội nhập kinh tế của Việt Nam” do Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện.
Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam là chuỗi báo cáo được xuất bản hàng năm nhằm tổng kết các vấn đề kinh tế lớn một năm qua, đồng thời thảo luận về viễn cảnh kinh tế năm tới và khuyến nghị chính sách trong bối cảnh hiện thời.
Năm 2009, với chủ đề “Kinh tế Việt Nam 2008: Suy giảm và thách thức đổi mới”, lần đầu tiên được công bố, Báo cáo đã được giới khoa học và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam nhiệt tình đón nhận, và được NXB Tri Thức xuất bản thành sách.
Năm 2010, Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2010 với chủ đề “Lựa chọn để tăng trưởng bền vững” được hoàn thành và xuất bản bằng hai thứ tiếng Việt và Anh, chính thức đưa sản phẩm này ra cộng đồng nghiên cứu quốc tế.
|
Chương 3, “Rủi ro kinh tế vĩ mô trong bối cảnh mới của Việt Nam, đề xuất một mô hình phản ánh những rủi ro tiềm tàng của kinh tế vĩ mô Việt Nam trong giai đoạn sắp tới, với những vấn đề cốt yếu bắt nguồn từ mô hình tăng trưởng kinh tế hiện thời, tích tụ rủi ro lên hệ thống tài chính và thị trường tài sản, đồng thời là nguyên nhân gây ra những mất cân đối vĩ mô trong nền kinh tế.
Chương 4, “Những bài học từ một thập kỷ chống lạm phát ở Việt Nam” tập trung tìm hiểu nguyên nhân của lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn 2000-2010, dựa trên cách tiếp cận định lượng hiện đại để tìm ra những bằng chứng mới, trên cơ sở đó đưa ra những khuyến nghị quan trọng về chính sách chống lạm phát trong thời gian tới.
Chương 5 với nhan đề “Hướng tới xây dựng nền tảng cho chính sách lãi suất ở Việt Nam” phân tích chính sách lãi suất của Việt Nam trong những năm qua, chứng minh rằng hiện Việt nam đang thiếu vắng một cơ chế nhất quán trong điều hành biến vĩ mô quan trọng bậc nhất hiện nay là lãi suất. Trên cơ sở mổ xẻ những vấn đề kinh tế nằm sau diễn biến bất thường của lãi suất ở Việt Nam trong nhiều năm qua, các tác giả đề xuất những nền tảng cho một chính sách lãi suất hiệu quả và nhất quán hơn.
Chương 6 của Báo cáo nghiên cứu về vấn đề “Nợ công của Việt Nam: Rủi ro và thách thức”, đưa ra một bức tranh rõ nét về tình trạng nợ công hiện nay, cùng những phân tích sâu sắc về các khía cạnh rủi ro tiềm tàng xung quanh vấn đề này. Chương này cũng xây dựng một bức tranh dự báo về nợ công trong thập niên tới.
Chương 7 với nhan đề “Phân tích cấu trúc thâm hụt cán cân thương mại Việt Nam - Trung Quốc” lần đầu tiên phân tích có hệ thống về cấu trúc mất cân đối trầm trọng trong cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, trên cơ sở đó vạch ra những nguyên nhân chi phối hiện tượng này, đồng thời thảo luận những chính sách ứng xử cần thiết.
Chương 8, “Thị trường lao động: Nhìn qua lăng kính của khu vực kinh tế phi chính thức”, đưa ra những thảo luận chi tiết và hệ thống về thị trường lao động với tâm điểm chú ý là khu vực phi chính thức rộng lớn ở Việt Nam. Nhóm tác giả cho rằng đây là khu vực quan trọng bậc nhất trong thị trường lao động của Việt Nam, nhưng lâu nay vẫn bị lãng quên trên khía cạnh chính sách.
Chương 9 của Báo cáo nói về Viễn cảnh kinh tế Việt Nam 2011 và khuyến nghị chính sách đưa ra đánh giá chung về nền kinh tế năm 2010 và hiệu quả của các công cụ chính sách kinh tế thực hiện trong năm. Chương 9 cũng đưa ra những dự báo về diễn biến kinh tế chính của Việt Nam trong năm 2011.
Báo cáo được cập nhật thông tin và số liệu đến hết tháng 12/2010, một số vấn đề thời sự được cập nhật đến hết tháng 3/2011.
Báo cáo tiếng Việt đầy đủ gồm hơn 500 trang sách sẽ được xuất bản dự kiến vào đầu tháng 6/2011. Báo cáo tiếng Anh sẽ được xuất bản sau đó khoảng một tháng, phát hành trên thị trường quốc tế.
Báo cáo là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu cũng như cho tất cả những ai quan tâm đến các vấn đề về kinh tế vĩ mô tại Việt Nam.
Để biết thêm thông tin về Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam liên hệ: ThS. Phạm Tuyết Mai, email: pham.tuyetmai@vepr.org.vn
___________________
Nhóm tác giả thực hiện Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2011
TS. Phạm Thế Anh: nhận bằng Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Manchester, Vương quốc Anh, chuyên gia kinh tế vĩ mô, giảng viên Khoa Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân, kiêm Kinh tế trưởng của Công ty Chứng khoán Thăng Long, cộng tác viên của VEPR.
TS. Từ Thuý Anh: nhận bằng Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Iowa, Hoa Kỳ, chuyên gia kinh tế quốc tế, Trưởng khoa Kinh tế Quốc tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội, cộng tác viên của VEPR.
ThS. NCS. Nguyễn Hữu Chí: đang trong giai đoạn hoàn thành chương trình tiến sĩ kinh tế tại Đại học Paris XIII, Cộng hòa Pháp, giảng viên khoa Thống kê – Trường Đại học Kinh tế quốc dân, thành viên của Chương trình GSO-IRD/DIAL (2007-2011) tại Việt Nam.
TS. Nguyễn Bình Dương: nhận bằng Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Paris XIII, Cộng hòa Pháp, chuyên gia kinh tế quốc tế, giảng viên Khoa Kinh tế Quốc tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội, cộng tác viên của VEPR.
TS. Phạm Văn Hà: nhận bằng Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Quốc gia Australia (ANU), chuyên gia kinh tế vĩ mô và mô hình hóa (CGE), Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính, Bộ Tài chính, cộng tác viên của VEPR.
TS. Nguyễn Thị Thu Hằng: nhận bằng Tiến sĩ kinh tế tại Đại học New York (NYU) Hoa Kỳ, chuyên gia kinh tế vĩ mô và kinh tế tài chính, giảng viên Khoa Kinh tế Phát triển, Đại học Kinh tế, ĐHQGHN, Phó giám đốc phụ trách nghiên cứu của VEPR.
TS. Nguyễn Quốc Hùng: nhận bằng Tiến sĩ kinh tế tại Đại học British Columbia, Canada, chuyên gia kinh tế vĩ mô và các vấn đề Đông Á, nhà nghiên cứu của Viện các Nền Kinh tế Đang Phát triển (IDE), Tokyo, Nhật Bản, cộng tác viên của VEPR.
ThS. NCS. Đinh Tuấn Minh: đang trong giai đoạn hoàn thành chương trình TS kinh tế tại trường Đại học Maastrict, Merit, Hà Lan, chuyên gia kinh tế ngành và phát triển doanh nghiệp, nghiên cứu viên cao cấp của VEPR.
TS. Mireille Razafindrakoto: nhận bằng Tiến sĩ kinh tế tại Trường Đại học Khoa học Xã Hội (EHESS), Paris, Cộng hòa Pháp, thành viên của Viện Nghiên cứu Phát triển Pháp (IRD), hiện là chuyên gia kinh tế, chủ nhiệm của Chương trình GSO-IRD/DIAL (2007-2011) tại Việt Nam, chuyên gia về kinh tế phát triển và thống kê.
TS. Francois Roubaud: nhận bằng Tiến sĩ kinh tế tại Trường Đại học Paris XI, Cộng hòa Pháp, chuyên gia cao cấp của Viện Nghiên cứu Phát triển Pháp (IRD), hiện là chuyên gia kinh tế của Chương trình GSO-IRD/DIAL (2007-2011) tại Việt Nam, chuyên gia về kinh tế phát triển và thống kê.
TS. Nguyễn Đức Thành: nhận bằng Tiến sĩ Kinh tế Phát triển tại Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản (GRIPS), chuyên gia về kinh tế vĩ mô, thành viên Nhóm tư vấn Kinh tế Vĩ mô của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Giám đốc kiêm Kinh tế trưởng của VEPR.
TS. Đặng Ngọc Tú: nhận bằng Tiến sĩ tại Đại học Quốc gia Úc (ANU), chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính, hiện công tác tại Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính, Bộ Tài chính, cộng tác viên của VEPR.